Cách Mạng Công Nghệ (CMCN) 4.0 đã và đang thay đổi môi trường sống cùng tập quán của chúng ta. Giáo dục cũng cần phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Xã hội trong kỷ nguyên của CMCN 4.0 (có thể gọi xã hội 4.0) có các đặc điểm sau:
1. Thế giới được kết nối và trao đổi thông tin qua Internet/wifi với nhau kể cả với con người. Robots sẽ là bạn đồng nghiệp chứ không còn là công cụ giúp việc.
2. Công nghệ thực tế ảo đang xóa dần ranh giới giữa thế giới thật và thế giới ảo. Tốc độ tính toán ngày càng tăng nhanh, các hệ thống thực tế ảo ngày càng giống thật.
3. Tất cả mọi công việc có thể hoàn tất bởi các hệ thống thông minh hay robots đều sẽ được thay thế. Các hệ thống thông minh và robots sẽ có khả năng quyết định, hành động độc lập và tự động để hoàn tất công việc giao phó nhanh chóng. Con người chỉ can thiệp khi các hệ thống thông minh này không có khả năng quyết định mà thôi (critical, bad and ill-defined situations).
4. Công nghệ sẽ giúp con người sống lâu hơn và chất lượng cuộc sống cũng cao hơn do đó nhu cầu phục vụ cũng sẽ tăng theo.
So với quá khứ, tập quán của con người ngày nay cũng đã thay đổi nhiều và tương lai sẽ còn nhiều thay đổi.
Điều đáng quan ngại là quan hệ trực diện giữa con người đang giảm đi đáng kể và dần được thay thế bằng tương tác gián tiếp qua kết nối công nghệ. Kỹ năng đọc, viết và trao đổi trực tiếp vì thế mà ngày càng kém đi.
CMCN đánh dấu những thay đổi lớn trong qui trình sản xuất.
Qua mỗi CMCN thì một số lớn công việc được thay thế bởi công nghệ mới nhưng nhiều công việc mới cũng được hình thành. Thí dụ CMCN 3.0, từ khi có máy tính và Internet thì các nghề mới như nghề lập trình viên, nghề lắp ráp, sửa chữa và bảo trì máy tính, nghề quản trị mạng, v.v. được hình thành.
Giáo dục cũng trải qua các cuộc thay đổi lớn trong môi trường, phương pháp cũng như triết lý đào tạo, tóm tắt như sau:
Giáo dục 1.0: Học sinh muốn học phải đến trường.
Vào lớp thầy cô đọc/giảng trò chép (một chiều). Tài liệu học tập từ bài chép và sách giáo khoa là chính. Chúng ta hay gọi là học từ chương.
Giáo dục 2.0: Được đánh dấu bởi việc dùng mạng (1)
Internet mở rộng không gian đào tạo qua trực tuyến giúp cho việc dạy và học có thể thực hiện ở mọi lúc mọi nơi. Thầy cô giáo tăng cường việc sử dụng các công nghệ cũng như tài liệu giảng dạy có trên mạng. Với Internet, việc sử dụng thông tin trên mạng để bổ sung cho tài liệu học tập từ thầy cô và sách giáo khoa trở nên bình thường. Việc học được mở rộng qua sự tương tác với các học sinh khác chứ không chỉ từ thầy cô.
Giáo dục 3.0: (hiện tại) Phục vụ cho nền kinh tế tri thức.(2)
Giáo dục 3.0 được đánh dấu bởi sự hình thành các hệ thống MOOC (Massive Open Online Courses) như Coursera, Udacy, edX, Udemy, Khan Academy, v.v. nên giáo dục được xã hội hóa toàn cầu, không giới hạn đối tượng. Triết lý về phương pháp dạy và học cũng có sự thay đổi lớn từ truyền thống qua phương pháp học tập hỗn hợp và lớp học đảo ngược. Phương pháp học tập hỗn hợp kết hợp hài hòa giữa trực diện và trực tuyến để việc dạy và học được hiệu quả tối đa về thời gian cũng như không gian. Lớp học đảo ngược thay đổi toàn diện qui trình đào tạo truyền thống. Trò học kiến thức căn bản ngoài lớp học từ các tài liệu trên hệ thống trực tuyến của trường, các hệ thống kết nối mở MOOC, Wikipedia, Youtube, v.v. Trong lớp thì học cách ứng dụng kiến thức để phản biện, giải quyết vấn đề qua trao đổi với thầy cô và với nhóm. Vai trò của thầy cô cũng thay đổi. Thầy cô đứng ở vai trò hướng dẫn và hỗ trợ quá trình học hỏi của học sinh chứ không còn ‘dạy’ kiến thức cho học sinh.
Giáo dục 4.0: Phục vụ cho nền kinh tế sáng tạo.
Giáo dục 4.0 sẽ được đánh dấu bởi thay đổi lớn trong mục tiêu đào tạo, chuyển từ truyền thụ kiến thức cho số đông qua khai lực (khai phóng tiềm lực, năng lực, và động lực) đồng thời trao quyền sáng tạo (empowering innovation) cho từng cá nhân. Trong khi việc cá nhân hóa đào tạo ngày càng nâng cao thì sứ mệnh của đào tạo vượt khỏi ranh giới quốc gia để phục vụ cho nhân loại.
CMCN 4.0 cũng như con người trong xã hội 4.0 đang đem đến nhiều thử thách cho giáo dục để đáp ứng được nhu cầu phát triển của mọi quốc gia. Nền giáo dục ở các nước tiên tiến hiện đang ở 3.0 và đang xây dựng hạ tầng cũng như cơ chế để chuyển qua 4.0. Các nước trong khu vực Đông Nam Á đã từng ở mức độ phát triển như Việt Nam như Malaysia và Thái Lan đang quyết liệt cải tiến nền giáo dục quốc gia để chào đón CMCN 4.0. Trong khi đó ở Việt Nam thì nền giáo dục đa phần vẫn chưa qua 2.0.
Trước những thử thách của CMCN 4.0, lựa chọn nào cho giáo dục Việt Nam?
Việt Nam có hai lựa chọn: 1) Không làm gì cả cứ để mọi việc tiến hóa tự nhiên và 2) Can đảm cải tiến nền giáo dục để hòa nhập với bước tiến của thế giới.
Giá của lựa chọn không làm gì sẽ rất lớn
Trong kỹ nghệ sản xuất, tự động hóa và robots có khả năng tăng năng xuất, nâng cao chất lượng thành phẩm, và giảm giá thành. Trong thời gian gần đây Trung Quốc (TQ) nhập khẩu người máy (robots) và đầu tư vào tự động hóa ở tốc độ nhanh nhất trên thế giới.
Robots đã và đang chiếm lấy công việc ở TQ với một tốc độ vũ bão.(3) Tuy nhiên đây là chiến lược phát triển kinh tế của TQ để cạnh tranh trên thị trường sản xuất, nhất là thị trường thực phẩm, đồ điện tử, lắp ráp xe hơi, và may mặc. Giá thành sản phẩm lâu nay của TQ đã có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới. Với tự động hóa và sử dụng người máy, TQ sẽ tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh ở tốc độ nhanh hơn nhiều.
Không riêng TQ, các nước trong khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và kể cả Thái Lan cũng đang đầu tư vào sử dụng người máy trong sản xuất.
Với việc sử dụng robots và tự động hóa trong dây chuyền sản xuất, doanh nghiệp không còn phải lệ thuộc vào thị trường lao động rẻ tiền.
Chẳng những thế, nếu sản xuất ngay tại thị trường tiêu dùng sẽ tiết kiệm chi phí vận chuyển. Hai lý do này khiến thị trường gia công bị suy giảm đáng kể. Điều này đang xảy ra ở Ấn Độ. [4]
